Hóa xạ trị tiền phẫu là gì? Các công bố khoa học về Hóa xạ trị tiền phẫu

Hóa xạ trị tiền phẫu (preoperative radiation therapy) là phương pháp sử dụng tia xạ để điều trị ung thư trước khi phẫu thuật được tiến hành. Phương pháp này thư...

Hóa xạ trị tiền phẫu (preoperative radiation therapy) là phương pháp sử dụng tia xạ để điều trị ung thư trước khi phẫu thuật được tiến hành. Phương pháp này thường được áp dụng cho các trường hợp ung thư giai đoạn đầu, khi còn có thể loại bỏ bớt hoặc thu nhỏ khối u trước khi phẫu thuật. Hóa xạ trị tiền phẫu nhằm giảm kích thước khối u, loại bỏ tế bào ung thư và kiểm soát sự lan truyền của bệnh. Sau khi tiến hành hóa xạ trị, phẫu thuật có thể được thực hiện để loại bỏ toàn bộ khối u hoặc cắt bỏ một phần của khối u. Phương pháp này có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát ung thư và cải thiện kết quả điều trị.
Hóa xạ trị tiền phẫu là phương pháp điều trị ung thư thông qua sử dụng tia xạ trước khi phẫu thuật. Thông thường, phương pháp này được áp dụng cho các bệnh nhân ung thư giai đoạn đầu, khi việc loại bỏ hoàn toàn bớt hoặc giảm kích thước khối u trước khi phẫu thuật có thể mang lại lợi ích.

Mục tiêu chính của hóa xạ trị tiền phẫu là giảm kích thước khối u, kiểm soát sự lây lan của bệnh và loại bỏ tế bào ung thư. Tia xạ được sử dụng nhằm tiêu diệt tế bào ung thư trong khối u, làm cho khối u trở nên nhỏ hơn và dễ dàng loại bỏ trong quá trình phẫu thuật.

Việc sử dụng tia xạ trước phẫu thuật giúp loại bỏ tế bào ung thư ở vùng xung quanh khối u, giảm nguy cơ lan rộng ra các cơ quan và mạch máu gần đó. Hóa xạ trị tiền phẫu cũng có thể giúp làm co nhỏ hoặc thu nhỏ các mạch máu tạm thời, làm giảm nguy cơ mất máu trong quá trình phẫu thuật.

Phẩn nền chất xạ sử dụng trong hóa xạ trị tiền phẫu có thể là tia X hoặc tia gamma. Thời gian và liều lượng tia xạ được chỉ định cho từng trường hợp cụ thể dựa trên loại ung thư, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và mục tiêu điều trị.

Sau khi hoàn tất hóa xạ trị tiền phẫu, bệnh nhân có thể tiếp tục điều trị bổ sung như phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn khối u hoặc giảm kích thước khối u. Việc sử dụng hóa xạ trị tiền phẫu có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát ung thư và cải thiện tỷ lệ sống sót tổng thể của bệnh nhân.

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, có thể có những tác động phụ nhất định từ hóa xạ trị tiền phẫu, bao gồm mệt mỏi, nôn mửa, tiêu chảy, tóc rụng và tác động tới các cơ quan bên trong. Tuy nhiên, các tác động này thường được coi là tạm thời và có thể được kiểm soát một cách hiệu quả.

Trước khi quyết định sử dụng hóa xạ trị tiền phẫu, bác sĩ sẽ thảo luận chi tiết với bệnh nhân về lợi ích và rủi ro của phương pháp này, cùng với các phương pháp điều trị khác có thể được áp dụng.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "hóa xạ trị tiền phẫu":

Siêu âm tăng cường tương phản và phương pháp nhuộm xanh trong việc phát hiện hạch bạch huyết sinh tử sau hóa trị tiền phẫu ở bệnh ung thư vú có hạch dương tính ban đầu Dịch bởi AI
Archives of gynecology - Tập 302 - Trang 685-692 - 2020
Các nghiên cứu gần đây cho thấy siêu âm tăng cường tương phản (CEUS) sử dụng SonoVue có tiềm năng cải thiện hiệu quả của sinh thiết hạch bạch huyết khu vực (SLNB) ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm. Tuy nhiên, chưa có đầy đủ bằng chứng về SLNB sử dụng CEUS ở những bệnh nhân chuyển từ cN1 sang cN0 sau hóa trị tiền phẫu (NAC). Mục tiêu của nghiên cứu triển vọng này là đánh giá tính khả thi của CEUS sử dụng SonoVue trong việc xác định hạch bạch huyết sinh tử (SLN) và giá trị của sự kết hợp giữa CEUS và thuốc nhuộm xanh (BD) cho SLNB ở bệnh nhân chuyển từ cN1 sang cN0 sau NAC. Các bệnh nhân có u phụ thuộc hạch lympho đã được xác nhận bằng tế bào học tại chỗ chẩn đoán ban đầu (giai đoạn T1-T3N1M0) từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 1 năm 2019 đã được thực hiện NAC. Những bệnh nhân chuyển từ cN1 sang cN0 sau NAC đã được tuyển chọn và phân ngẫu nhiên vào hai nhóm để thực hiện SLNB: nhóm phương pháp kết hợp sử dụng CEUS và BD cùng một lúc, và nhóm phương pháp BD đơn lẻ. Sau đó, tất cả bệnh nhân đã trải qua mổ cắt toàn bộ hạch bạch huyết nách (ALND) và phẫu thuật vú chính. So với kết quả bệnh lý cuối cùng, tỷ lệ nhận diện, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, tỷ lệ âm tính giả, giá trị dự đoán âm tính và giá trị dự đoán dương tính đã được ghi nhận và so sánh giữa hai phương pháp. Tổng cộng có 400 bệnh nhân mắc bệnh ở giai đoạn T1-T3N1M0 đã thực hiện NAC trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 1 năm 2019, trong đó 134 (33,5%) bệnh nhân có hạch tiêu cực lâm sàng đã được xác nhận bằng hình ảnh sau NAC và được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm. Mỗi nhóm bao gồm 67 trường hợp. Trong nhóm phương pháp kết hợp, các mạch bạch huyết tăng cường tương phản trong 66 trên 67 trường hợp đã được hiện rõ bằng siêu âm ngay sau khi tiêm SonoVue quanh quầng vú và các SLN đã được định vị chính xác. Tỷ lệ xác định của phương pháp kết hợp là 98,5%, cao hơn đáng kể so với 83,6% (56/67) khi sử dụng phương pháp BD đơn lẻ. Số lượng SLN trung bình được xác định bằng phương pháp kết hợp cao hơn so với phương pháp BD đơn lẻ. So với chẩn đoán bệnh lý, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính và tỷ lệ âm tính giả của phương pháp kết hợp lần lượt là 84,4%, 100%, 89,4%, 100%, 75% và 15,6%. Trong khi đó, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính và tỷ lệ âm tính giả khi sử dụng thuốc nhuộm xanh đơn lẻ là 73,9%, 100%, 89,3%, 100%, 84,6% và 26,1%. Tỷ lệ âm tính giả khi sử dụng phương pháp kết hợp thấp hơn đáng kể so với việc sử dụng BD đơn lẻ. Việc nhận diện SLN ở bệnh nhân chuyển từ cN1 sang cN0 sau NAC bằng CEUS là khả thi về mặt kỹ thuật. Sự kết hợp giữa CEUS và BD hiệu quả hơn so với việc chỉ sử dụng BD cho SLNB ở bệnh nhân chuyển từ cN1 sang cN0 sau NAC.
#Siêu âm tăng cường tương phản #SonoVue #sinh thiết hạch bạch huyết khu vực #hóa trị tiền phẫu #hạch bạch huyết sinh tử.
Đánh giá kết quả hóa xạ trị tiền phẫu trong ung thư trực tràng giai đoạn xâm lấn
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả hóa xạ trị tiền phẫu trong điều trị (ĐT) ung thư trực tràng (UTTT) giai đoạn xâm lấn, đồng thời nhận xét một số tác dụng không mong muốn và độc tính của phương pháp ĐT này. Nghiên cứu được thực hiện trên 31 bệnh nhân (BN) UTTT thấp giai đoạn T3, T4. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đáp ứng toàn bộ trên mô bệnh học là 90,3%, đáp ứng hoàn toàn là 6,5%, tỷ lệ phẫu thuật triệt căn 80,7% trong đó 12,9% phẫu thuật bảo tồn cơ thắt. Thời gian sống thêm không bệnh 3 năm là 78,1%. Các tác dụng phụ trên hệ huyết học đều độ 1, 2; các tác dụng phụ khác ít gặp. Qua nghiên cứu có thể kết luận, hóa xạ trị tiền phẫu có tỷ lệ đáp ứng cao, cải thiện đáng kể tỷ lệ phẫu thuật triệt căn và phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu môn. Phương pháp hóa xạ trị đồng thời an toàn, ít độc tính, tác dụng phụ ở mức thấp.  
#Hóa xạ trị tiền phẫu #ung thư trực tràng xâm lấn
KẾT QUẢ HÓA XẠ TRỊ TIỀN PHẪU UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 GIỮA- DƯỚI GIAI ĐOẠN II, III TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 506 Số 1 - 2021
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 giữa- dưới giai đọan II, III tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được hóa xạ trị tiền phẫu và đánh giá kết quả điều trị của nhóm bệnh nhân trên. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 44 bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 giữa - 1/3 dưới giai đoạn II-III điều trị hóa xạ trị tiền phẫu với phác đồ hóa chất Paclitaxel/Carboplatin kết hợp liều xạ trị 41,4Gy/23Fx và phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình là 55, tỷ lệ nam là 97,7%. Triệu chứng chủ yếu là nuốt nghẹn 81,8%, sút cân gặp ở 27/44 (61,2%), chiều dài trung bình của u là 6±0,25cm. Đáp ứng hoàn toàn trên cận lâm sàng tương ứng là 38,6%. Đáp ứng hoàn toàn trên giải phẫu bệnh là 43,2% (pT0N0). Các độc tính chủ yếu độ 1-2 bao gồm mệt mỏi, viêm niêm mạc thực quản, hạ bạch cầu. Kết luận: hóa xạ trị tiền phẫu là phương pháp điều trị có hiệu quả cho ung thư thực quản 1/3 giữa- dưới giai đoạn II-III với tác dụng không mong muốn có thể chấp nhận được.
#Hóa xạ trị tiền phẫu #ung thư thực quản
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HÓA XẠ TRỊ TIỀN PHẪU UNG THƯ TRỰC TRÀNG BẰNG KĨ THUẬT VMAT KẾT HỢP CAPECITABINE ĐƯỜNG UỐNG TẠI BỆNH VIỆN K
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 509 Số 1 - 2022
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân Ung thư trực tràng tại Bệnh viện K từ 06/2018 đến 10/2021. Đánh giá kết quả hóa xạ trị trước mổ ung thư trực tràng bằng kỹ thuật điều biến liều thể tích hình cung (VMAT) kết hợp Capecitabin đường uống. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, cỡ mẫu thuận tiện. Kết quả: Tuổi trung bình 58,6 tuổi. Tuổi thường gặp từ 51 - 70 chiếm 76,6%. Tỉ lệ nam/nữ : 1,4. Thời gian phát hiện bệnh ≤ 6 tháng chiếm  84,9%. Triệu chứng hay gặp trong UTTT gồm đi ngoài phân lẫn máu 87,2%. Khối u di động một phần chiếm 65,5%. Ung thư biểu mô tuyến chiếm 100%, thể nhầy chiếm 14,8%. Giai đoạn T3 chiếm 61,8%, T4 chiếm 29,1%. Sau điều trị chu vi u giảm chiếm 70,9%. Tỉ lệ hạ thấp giai đoạn 64,1%. Tỉ lệ phẫu thuật triệt căn 100%, trong đó UTTT thấp bảo tồn cơ thắt 16,4%. Đáp ứng trên MBH chiếm 90,9%. Kết luận:  Tuổi trung bình hay gặp 58,6.  Tỉ lệ nam/nữ: 1,4. Thời gian phát hiện bệnh ≤ 6 tháng chiếm 84,9%. Triệu chứng cơ năng hay gặp: đi ngoài phân lẫn máu, chiếm 87,2%. Di động một phần chiếm 74,5%. Giai đoạn T3 chiếm 64,8%, T4 chiếm 35,2%. U cách rìa hậu môn < 6 cm chiếm 72,6%. Hạ thấp giai đoạn chung 64,1%. Tăng tỷ lệ phẫu thuật triệt căn 100% và phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu môn đạt 16,4%. Đáp ứng chung trên mô bệnh học là 90,9 %. Trong đó đáp ứng hoàn toàn là 10,9%. Độc tính chỉ gặp độ 1, độ 2 với tỉ lệ thấp.
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỐNG THÊM 10 NĂM HOÁ - XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ TRỰC TRÀNG GIAI ĐOẠN II-III TẠI BỆNH VIỆN K
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 515 Số 1 - 2022
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá một số yếu tố tiên lượng ảnh hưởng đến thời gian sống thêm lâu dài của hóa xạ trị đồng thời bổ trợ trong ung thư trực tràng sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 75 người bệnh ung thư trực tràng giai đoạn (pT3-4,N0M0 và pTbất kỳN1-2M0) được điều trị tại Bệnh viện K từ 2012 đến 2017. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ sống thêm toàn bộ tại thời điểm 10 năm là 52,0%.Thời gian sống thêm toàn bộ (STTB) theo nồng độ CEA trước phẫu thuật CEA ≤5 ng/ml là 96,2±6,2 tháng cao hơn nhóm có CEA > 5ng/ml là 54,6±5,8 tháng với p=0,01% và sau phẫu thuật tại thời điểm 10 năm với CEA ≤5 5ng/ml sau phẫu thuật ng/ml là 85,4±5,6 tháng cao hơn nhóm có CEA > 5ng/ml là 59,1±10,9 tháng với p=0,2%. Thời gian STTB trung bình cho giai đoạn II và III tương ứng là 96±6,3 tháng và 59,2±6,0 tháng (p=0,006). STTB trung bình theo vị trí ung thư trực tràng cao, trung bình, thấp tương ứng là 86,2±15,5 tháng, 66,3±5,2 tháng và 75,2±5,9 tháng (p=0.820). STTB trung bình theo cách thức phẫu thuật LAR, Miles và Hartmann tương ứng là 87,4±6,8 tháng; 74,92±6,9 tháng và 41,9±8,1 tháng (p=0.035).STTB trung bình theo độ biệt hoá của tế bào cao, vừa và thấp tương ứng là 67,8±10,6 tháng; 83,7±6,3 tháng và 67,7±9,0 tháng (p=0.98).STTB trung bình theo giới tính nam và nữ tương ứng là 89,0±6,7 tháng và 63±6,6 tháng (p=0.118). Kết luận: Hóa xạ trị sau mổ kéo dài thời gian sống thêm đối với các trường hợp ung thư trực tràng giai đoạn II-III, có sự khác biệt thời gian sống thêm toàn bộ 10 năm theo nồng độ CEA trước và sau mổ, theo giai đoạn.
#Ung thư trực tràng #điều trị bổ trợ #hóa xạ trị sau phẫu thuật #thời gian sống thêm toàn bộ
Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh PET/CT của bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không thể phẫu thuật được điều trị hóa xạ đồng thời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm, cận lâm sàng, hình ảnh PET/CT của bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không thể phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp, không đối chứng, theo dõi dọc. Bệnh nhân được sử dụng PET/CT trong chẩn đoán giai đoạn, lập kế hoạch xạ trị trong hóa xạ trị đồng thời và đánh giá kết quả điều trị, phác đồ hóa chất là paclitaxel/carboplatin, xạ điều biến liều IMRT với liều xạ mục tiêu 60Gy. Kết quả: Tuổi trung bình 58,23 tuổi, nam giới chiếm 83,33%, có tiền sử hút thuốc lá 86,67%, 70% bệnh nhân sút cân, 76,67% đau ngực, 60% ho kéo dài, tăng nồng độ Cyfra 21-1 huyết thanh 70,0% và tăng CEA 56,67%, ung thư biểu mô tuyến chiếm 73,33%, ung thư biểu mô vảy 26,67%. PET/CT phát hiện thêm hạch di căn 33,33% và làm thay đổi giai đoạn T, N đáng kể so với CT ngực. Kết luận: PET/CT giúp chẩn đoán chính xác hơn giai đoạn so với CT ngực, giúp lập kế hoạch xạ trị trong hóa xạ trị đồng thời giúp cải thiện thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và sống thêm toàn bộ của bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không thể phẫu thuật.
#Hóa xạ trị đồng thời #PET/CT #ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không thể phẫu thuật
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TIỀN PHẪU TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 GIỮA, DƯỚI GIAI ĐOẠN II, III
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 515 Số 1 - Trang - 2022
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 giữa, dưới giai đoạn II, III và đánh giá hiệu quả hóa xạ trị đồng thời tiền phẫu ở nhóm bệnh nhân trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 32 bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 giữa, dưới giai đoạn II, III được hóa xạ trị tiền phẫu với phác đồ hóa chất Paclitaxel/Carboplatin hàng tuần (liều Paclitaxel 50mg/m2, Carboplatin AUC 2) kết hợp xạ trị (liều 41,4Gy/23Fr) và phẫu thuật sau kết thúc hóa xạ trị 4-6 tuần. Kết quả: Tuổi trung bình 55,22± 8,8 tuổi, 100% là nam giới. Triệu chứng chủ yếu là nuốt nghẹn 87,5%, chiều dài trung bình khối u là 5,09+1,51cm. 100% bệnh nhân có mô bệnh học là ung thư biểu mô vảy, và đa số ở giai đoạn III (87,5%). Sau hóa xạ trị, 87,5% bệnh nhân có cải thiện triệu chứng chủ quan trên lâm sàng; 87,5% bệnh nhân có đáp ứng theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 trong đó đáp ứng hoàn toàn là 37,5%. Sau hóa xạ trị, 68,8% bệnh nhân được phẫu thuật. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (pCR) là 45,5% với diện cắt R0 đạt 100%. Kết luận: Hóa xạ trị đồng thời tiền phẫu phác đồ hóa chất PC (Paclitaxel+ Carboplatin) kết hợp với xạ trị liều 41,4Gy/23Fr là phương pháp có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 giữa, dưới giai đoạn II, III. 
#Ung thư thực quản #Hóa xạ trị đồng thời tiền phẫu
Ý Nghĩa Lâm Sàng của Tỷ Lệ Giảm s-CEA Trước và Sau Hóa Xạ Trị ở Bệnh Nhân Ung Thư Đại Tràng Được Điều Trị Bằng Hóa Xạ Trị Trước Phẫu Thuật và Cắt Bỏ Có Kiểm Soát Dịch bởi AI
Annals of Surgical Oncology - Tập 18 - Trang 3271-3277 - 2011
Để đánh giá ý nghĩa lâm sàng của tỷ lệ giảm nồng độ kháng nguyên phôi thai huyết thanh (s-CEA) từ trước đến sau hóa xạ trị trước phẫu thuật (CRT) về mặt tái phát và các yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư đại tràng. Chúng tôi đã đánh giá hồi cứu 333 bệnh nhân ung thư đại tràng đã được điều trị bằng CRT trước phẫu thuật, sau đó là phẫu thuật với mục đích điều trị khỏi từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2006. Bệnh nhân được chia thành ba nhóm: nhóm có s-CEA trước CRT ≤ 6 ng/mL (nhóm 1), nhóm có s-CEA trước CRT > 6 ng/mL và s-CEA sau CRT giảm ≥ 70% so với s-CEA trước CRT (nhóm 2), và nhóm có s-CEA trước CRT > 6 ng/mL và s-CEA sau CRT giảm < 70% hoặc cao hơn so với s-CEA trước CRT (nhóm 3). Tỷ lệ sống không có bệnh sau 5 năm tương tự ở nhóm 1 (76,0%) và nhóm 2 (66,0%), nhưng thấp hơn đáng kể ở nhóm 3 (39,5%) (p < 0,001). Phân tích đa biến cho thấy nhóm CEA 3, giai đoạn ypT, giai đoạn ypN và loại phẫu thuật là các yếu tố tiên lượng độc lập cho sự sống không có bệnh. Tỷ lệ giảm nồng độ s-CEA từ trước đến sau CRT có thể là một yếu tố tiên lượng độc lập cho sự sống không có bệnh sau khi điều trị bằng CRT trước phẫu thuật và phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư đại tràng có s-CEA ban đầu > 6 ng/mL.
#ung thư đại tràng #kháng nguyên phôi thai huyết thanh (s-CEA) #hóa xạ trị #phẫu thuật điều trị #yếu tố tiên lượng
Nghiên cứu đa trung tâm giai đoạn I/II về hóa trị liệu khởi đầu với docetaxel, cisplatin và fluorouracil (DCF) theo sau là hóa xạ trị ở bệnh nhân bị ung thư thực quản cục bộ tiến xa không thể phẫu thuật Dịch bởi AI
Cancer Chemotherapy and Pharmacology - Tập 78 - Trang 91-99 - 2016
Chăm sóc tiêu chuẩn cho ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản (ESCC) tiến xa cục bộ không thể phẫu thuật là hóa xạ trị đồng thời, nhưng tỷ lệ sống sót vẫn còn hạn chế. Hóa trị liệu neoadjuvant với docetaxel, cisplatin và fluorouracil (DCF) đã cho thấy hoạt động đầy hứa hẹn, với tỷ lệ phản ứng hoàn toàn bệnh lý (CR) đạt 17% ở giai đoạn có thể phẫu thuật II/III ESCC. Ở đây, chúng tôi thực hiện một nghiên cứu đa trung tâm để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của hóa trị liệu khởi đầu bằng DCF sau đó là hóa xạ trị ở những bệnh nhân mắc ESCC tiến xa cục bộ không thể phẫu thuật. Tiêu chí đủ điều kiện bao gồm T4 lâm sàng và/hoặc hạch bạch huyết M1 ESCC, điểm hiệu suất (PS) 0–1 và độ tuổi 20–70. Phác đồ điều trị bao gồm docetaxel 70 mg/m2 và cisplatin 70 mg/m2 vào ngày 1, và fluorouracil 750 mg/m2 vào các ngày 1–5, lặp lại mỗi 3 tuần trong ba chu kỳ, tiếp theo là cisplatin 70 mg/m2 vào các ngày 64 và 92, và fluorouracil 700 mg/m2 vào các ngày 64–67 và 92–95, đồng thời với xạ trị (60 Gy trong 30 phân đoạn, 5 ngày/tuần). Điểm chính của phần giai đoạn II là tỷ lệ CR. Ba mươi ba bệnh nhân đã được tuyển chọn. Tỷ lệ hoàn thành điều trị theo quy trình là 88%. Mười ba bệnh nhân (39.4%) đạt được CR. Với thời gian theo dõi trung bình là 41 tháng (khoảng 24–49 tháng), thời gian sống không tiến triển trung bình là 12.2 tháng, và thời gian sống trung bình là 26.0 tháng, với tỷ lệ sống sót là 40.4% ở 3 năm. Các độc tính thường gặp nhất ở cấp độ 3 hoặc 4 là giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, chán ăn và khó nuốt. Không phát hiện trường hợp tử vong liên quan đến điều trị. Hóa trị liệu khởi đầu với DCF theo sau là hóa xạ trị là có thể dung nạp và cho thấy hiệu quả hứa hẹn đối với ESCC tiến xa cục bộ không thể phẫu thuật.
#ung thư thực quản #hóa trị liệu khởi đầu #docetaxel #cisplatin #fluorouracil #hóa xạ trị #tiến xa cục bộ #nghiên cứu đa trung tâm
Tổng số: 28   
  • 1
  • 2
  • 3